Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Bổ sung canxi cho trẻ như thế nào là đúng?

Bổ sung canxi cho trẻ như thế nào là đúng? Bổ sung canxi như thế nào không hề đơn giản. Nếu bổ sung không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe của trẻ.



Nhiều bậc cha mẹ nghĩ rằng, cứ bổ sung canxi cho trẻ giúp trẻ không bị còi xương. Nhưng thực tế, điều này không hề đơn giản, bổ sung không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe của trẻ. Vậy, bổsung canxi như thế nào để có hiệu quảcho cơ thể mới là điều quan trọng.


Không phải cứ uống canxi, đưa canxi vào cơ thể thật nhiều là tốt. Thực tế cho thấy, thừa cái gì quá cũng không tốt. Cơ thể không hấp thu được.


Theo thạc sĩ Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng quốc gia, thiếu vitamin D và canxi trẻ sẽ bịcòi xương. Nếu trẻ rơi vào nhóm có nguy cơthiếu các vi chất này hoặc nghi ngờ chế độăn hằng ngày không cung cấp đủ thì việc bổ sung là cần thiết. Tuy nhiên, uống bổ sung như thế nào thì cần theo sự hướng dẫn của bác sĩ, không nên tự uống. Nếu cơ thể trẻ thừa canxi dẫn đến gây mệt mỏi, chán ăn, sỏi thận, tăng huyết áp…, xương cốt hoá sớm trẻ có thể bị thấp chiều cao. Trong khi đó, thừa vitamin D có thể làm cho trẻchán ăn, mệt mỏi, nôn, dày màng xương, có trường hợp có thể bị thiểu năng, giảm trí tuệ. Có trường hợp bổ sung Vitamin D quá nhiều có thể gây suy thận, tử vong.



Bổ sung canxi cho trẻ như thế nào là đúng

Không thể tùy tiện bổ sung canxi cho trẻ.


Bổ sung canxi cho trẻ như thếnào?


Để cung cấp đủ canxi cho trẻ nhỏ, cha mẹ nên có chế độ ăn uống khoa học cho trẻ. Sữa và những chế phẩm từ sữa (phô mai, sữa chua…) là những nguồn thực phẩm chứa nhiều canxi nhất. Sữa nguyên kem và sữa tươi có hàm lượng canxi như nhau. Ngoài ra, các loại rau lá có màu xanh sậm, hải sản (tôm, cua, sò), cá, đậu… cũng là những nguồn cung cấp canxi tự nhiên cho cơ thể.

Theo thạc sĩ Hải, từ tháng thứ6 bé có thể ăn được hải sản, trẻ ăn cá nào cũng được nếu ăn cá hồi thìlại càng tốt. Từ 7 tháng tuổi trẻ có thểăn được tất cả các loại thực phẩm giống người lớn, chỉ khác về số lượng vàcách chế biến. Tôm là thức ăn giàu đạm và canxi. Từ tháng thứ 7 trở đi có thể cho trẻ ăn tôm đồng, tôm biển. Cua đồng là thức ăn chứa hàm lượng canxi cao, vì vậy nên cho trẻ ăn thường xuyên để cung cấp canxi.


Ngoài chế độ ăn uống, các bậc phụ huynh cũng cần lưu ý cho con mình thường xuyên được tắm nắng, vận động ngoài ánh nắng để tăng cường hấp thu vitamin D và canxi.


Nếu được chỉ định dùng thuốc canxi, các bậc cha mẹ nên cho trẻ uống tốt nhất vào buổi sáng, sau khi ăn một giờ.


Dấu hiệu nhận biết trẻ thiếu canxi


- Trẻ quấy khóc, ngủ không ngon giấc, khi ngủ hay giật mình. Mỗi lần như vậy, trẻ có những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt, cơn khóc kéo dài và có thểnhiều giờ hoặc suốt đêm. Càng dỗ, càng ru, càng cho bú, trẻ càng khóc nhiều, có thể ngưng thở trong cơn khóc.


- Ra nhiều mồ hôi, nhất là khi ngủ.


- Tóc rụng thành đường hình vành khăn sau gáy.


- Hay có những cơn co thắt thanh quản gây khó thở, nấc cụt, ọc sữa…


Những trường hợp nặng có thểngưng thở và thở nhanh, có các cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim. Trẻ bịcòi xương nặng do thiếu canxi thì thóp chậm liền, đầu bẹt, lồng ngực dô, chân vòng kiềng hoặc chữbát, chậm mọc răng, chậm phát triển kỹ năng vậnđộng.


Trẻ lớn hơn thường có những biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, gầy yếu, chóng mặt, đổ nhiều mồ hôi, ngủ không ngon giấc…


Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) lượng canxi cần cho mọi lứa tuổi như sau:


- Dưới 6 tháng tuổi: 300 mg/ngày


- Từ 7 – 12 tháng tuổi: 400 mg/ngày


- Từ 1 – 3 tuổi: 500 mg/ngày


- Từ 4 – 6 tuổi: 600 mg/ngày


- Từ 7 – 9 tuổi: 700 mg/ngày


- Từ 10 tuổi: 1000 mg/ngày


- Từ 11- 24 tuổi: 1200 mg /ngày


- Từ 24 – 50 tuổi : 800mg – 1000mg /ngày

- Phụ nữ có thai, người cao tuổi: cần 1200mg – 1500mg /ngày.


Theo VnMedia



Bổ sung canxi cho trẻ như thế nào là đúng?

Tìm hiểu chứng tiểu đêm ở người cao tuổi

Chứng tiểu đêm ở người cao tuổi nguyên nhân do đâu và làm thế nào để phòng ngừa tránh gây phiền muộn cho NCT trong cuộc sống hàng ngày.


Người cao tuổi (NCT) nhiều chức năng sinh lý có sự thay đổi đáng kể kèm theo mắc một số bệnh tật liên quan đến hệ thống đường tiết niệu gây nên chứng tiểu đêm. Tiểu đêm gây không ít phiền muộn cho NCT trong cuộc sống hàng ngày.


Nguyên nhân của chứng tiểu đêm ở người cao tuổi


Theo định nghĩa của Hiệp hội Niệu khoa Quốc tế, chứng tiểu đêm được hiểu là tình trạng một người phải tỉnh dậy nhiều hơn một lần vào ban đêm để đi tiểu và tình trạng đó diễn ra trong một thời gian dài. Tuổi càng cao thì tỉ lệ mắc chứng tiểu đêm cũng tăng lên (độ tuổi 20 – 50 là khoảng 5 – 15% số người đi tiểu đêm và khi tuổi trên 50 thì có tới trên 50%).





Chứng tiểu đêm ở người cao tuổi ảnh hưởng đến giấc ngủ và sức khỏe


Tiểu đêm ở NCT do nhiều nguyên nhân khác nhau: có thể là do chức năng sinh lý bị suy giảm nhưng cũng có thể là do bệnh lý. Bình thường bàng quang của người trưởng thành có dung dích khoảng từ 300 – 400ml chứa đựng nước tiểu. Nước tiểu là do thận bài tiết xuống chảy theo hai niệu quản (niệu quản phải và niệu quản trái) xuống bàng quang. Khi bàng quang đầy sẽ kích thích cơ thể gây nên phản xạ đi tiểu. Tuy vậy, bên cạnh phản xạ còn có tác dụng của điều hòa thần kinh theo ý muốn của con người, có nghĩa là dù bàng quang đã đầy nước tiểu nhưng con người có thể nhịn trong một thời gian nhất định nào đó cũng có thể được, ví dụ buồn tiểu nhưng giữa lúc đám đông, đi trên tàu xe hoặc đang đi dạo phố mà chưa tìm thấy nhà vệ sinh. Mặt khác, khi ngủ thì sự co bóp của bàng quang cũng tạm thời nghỉ, cho nên mặc dù bàng quang đầy nước tiểu nhưng não bộ sẽ ức chế không gây sự co bóp của bàng quang dẫn đến không gây phản xạ đi tiểu, vì vậy giấc ngủ vẫn ngon mà không bị đánh thức lúc đang ngủ say. Điều này cũng có thể giải thích tại sao ở một số trẻ  do hệ thống thần kinh chưa hoàn chỉnh nên có hiện tượng đái dầm lúc đang ngủ.


Đối với NCT, tiểu đêm là một hiện tượng hay gặp. Thông thường, NCT ít ngủ hơn (thời gian của giấc ngủ ngắn), đi ngủ sớm nhưng thức dậy cũng sớm. Ít ngủ lại dễ gây buồn tiểu và ngược lại đi tiểu đêm nhiều lần lại càng dễ gây cho NCT mất ngủ, đây là một vòng luẩn quẩn. Mất ngủ sẽ làm cho nhiều bệnh nặng thêm, ví dụ như bệnh tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, bệnh rối loạn tuần hoàn não, bệnh suy nhược cơ thể, bệnh viêm đường tiết niệu hoặc bệnh về đường tiêu hóa (dạ dày – tá tràng, viêm đại tràng mạn tính, viêm đại tràng co thắt). Ở NCT là nam giới nếu bị u xơ tiền liệt tuyến thì hiện tượng tiểu đêm càng hay gặp, nhất là khi u xơ có kích thước lớn chèn ép vào cổ bàng quang, khi bàng quang chứa nhiều nước tiểu thì sẽ bị kích thích đi tiểu. U xơ tiền liệt tuyến cũng có thể gây nên tiểu són, tiểu không hết nước tiểu trong bàng quang càng gây phản xạ đi tiểu.


Nhiều người nghĩ rằng chủ yếu nam giới mới hay bị tiểu đêm vì tuyến tiền liệt chỉ có ở nam giới và gây rối loạn về tiểu tiện khi bị phì đại hoặc viêm nhiễm. Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về tỉ lệ mắc chứng tiểu đêm giữa nam giới và nữ giới. Nhưng có vẻ sự phân bố này lại không đều theo tuổi. Khi trẻ, phụ nữ thường gặp chứng tiểu đêm nhiều hơn nam giới (tỉ lệ nữ giới bị viêm tiết niệu lúc còn trẻ khá cao, đặc biệt ngay sau khi lập gia đình), trong khi NCT là nam giới lại có xu hướng mắc tiểu đêm nhiều hơn. Hiện tượng đái són, tiểu không hết (gặp ở nam và nữ giới chủ yếu do bệnh tật về đường tiểu) càng làm cho bàng quang chóng đầy nước tiểu, bởi vì chức năng lọc của 2 quả thận luôn luôn hoạt động không bao giờ ngừng cả ngày lẫn đêm. Vì vậy, nước tiểu cũng được hình thành liên tục, do đó bàng quang càng chóng đầy và càng bị kích thích gây đi tiểu tiếp tục càng làm cho người bệnh không ngủ yên được.


Tiểu đêm, đôi khi lại do chế độ ăn, uống không hợp lý. Bữa cơm tối, nếu ăn nhiều rau có tính chất lợi tiểu cũng gây tiểu đêm (rau cải) hoặc uống nhiều nước, uống bia. Một số người nghiện cà phê, thuốc lá mà uống, hút trước khi đi ngủ buổi tối cũng sẽ gây nên chứng tiểu đêm do tình trạng khó ngủ, ngủ chập chờn càng buồn đi tiểu.


Có thể phòng ngừa được không?


Với những người cao tuổi không mắc một số bệnh như: đái tháo đường, viêm đường tiết niệu hoặc u xơ tiền liệt tuyến, tăng huyết áp, đái tháo nhạt,… thì hạn chế ăn canh trong bữa cơm tối và sau bữa cơm tối đặc biệt là các loại rau, canh có tính chất lợi tiểu như các loại cải…; hạn chế uống nước, uống bia, nhất là bia lạnh trước khi đi ngủ. Buổi tối không nên uống cà phê hoặc hút thuốc lá. Để hạn chế uống nước thì không nên ăn mặn (với NCT ăn mặn còn là một yếu tố nguy cơ tăng huyết áp). Trước khi lên giường đi ngủ buổi tối luôn luôn nhớ đi tiểu.


Đối với những trường hợp NCT mắc một số bệnh viêm đường tiết niệu (viêm bàng quang, viêm thận)  cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt không nên để cho bệnh trở thành mạn tính rất khó điều trị và mắc thêm chứng tiểu đêm gây nên nhiều phiền toái. Những người mắc bệnh như đái tháo đường, u xơ tiền liệt tuyến, sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang), tăng huyết áp cũng cần được điều trị tích cực để bệnh mau chóng ổn định, hạn chế bớt chứng tiểu đêm. Bởi vì, nếu bị u xơ tuyến tiền liệt tuyến gây khó tiểu kéo dài (mạn tính) cũng rất dễ gây viêm đường tiết niệu hoặc bị sỏi đường tiết niệu không xử trí sớm cũng có nguy cơ gây viêm đường tiết niệu chưa nói đến hậu quả nặng nề của sỏi tiết niệu là làm hỏng thận gây suy thận.

PGS.TS. Bùi Khắc Hậu



Tìm hiểu chứng tiểu đêm ở người cao tuổi

Chứng khó nuốt ở người cao tuổi

Chứng khó nuốt ở người cao tuổi là một dấu hiệu của bệnh lý hầu họng hoặc thực quản, thường gặp. Nếu chứng khó nuốt ở người cao tuổi diễn ra thường xuyên thì cần phải điều trị.


Chứng khó nuốt với biểu hiện đa dạng


Trên thực tế, chứng khó nuốt có nhiều dạng: tự nhiên xuất hiện và biến mất; khó nuốt nhẹ hay nặng hoặc càng ngày càng nặng. Các triệu chứng của khó nuốt gồm: khó khăn khi nuốt thức ăn hoặc dịch xuống dạ dày trong lần nuốt đầu tiên; nôn ọe, mắc nghẹn hoặc ho khi nuốt; thức ăn bị trào ngược lên hầu, miệng hoặc mũi sau khi nuốt vào; bệnh nhân cảm thấy thức ăn mắc nghẹt lại ở một phần nào đó của hầu hoặc ngực; bị đau khi nuốt; bị đau hay cảm thấy nặng ngực hoặc bị chứng ợ nóng; sụt cân do không cung cấp đủ thức ăn; khó khăn khi nuốt thức ăn đặc hay chất lỏng hoặc cả hai.



chứng khó nuốt ở người già

Khó nuốt, khi nào là bệnh? Hình ảnh Xquang phát hiện khó nuốt do tắc nghẽn.



Ở người khỏe mạnh, các cơ ở hầu họng, thực quản co thắt để tống thức ăn từ miệng xuống thực quản theo phản xạ nuốt. Khi mắc bệnh, có 2 loại nguyên nhân gây khó nuốt: rối loạn vận động các cơ hầu họng, thực quản; hoặc là bị nghẹt ở hầu hoặc thực quản.


Rối loạn vận động các cơ hầu họng, thực quản xảy ra trong các trường hợp: bị đột quỵ, tổn thương não hoặc tủy sống; chứng co thắt thực quản, đa xơ hóa cơ, loạn dưỡng cơ hoặc mắc bệnh Parkinson; viêm đa cơ hoặc viêm da cơ; co thắt thực quản; xơ cứng bì làm cho các mô của thực quản trở nên cứng và hẹp lại, cơ ở đoạn thấp thực quản bị yếu đi.


Nghẹt ở hầu hoặc thực quản trong các bệnh lý: trào ngược dạ dày thực quản; viêm thực quản; lưới thực quản do bẩm sinh đã có lưới thực quản hoặc mắc phải; túi thừa là sự xuất hiện các túi nhỏ ở thành thực quản hoặc thành hầu bẩm sinh  hay mắc phải; các u thực quản như ung thư hoặc lành tính; dị vật thực quản; các khối u bên ngoài thực quản như hạch bạch huyết, chèn ép vào thực quản.


Ngoài ra, còn khó nuốt không rõ nguyên nhân, khó nuốt do sự lão hóa cơ thực quản…


Chụp Xquang có chuẩn bị bằng dung dịch barit thấy tổn thương hay vị trí tắc nghẽn; nội soi thanh quản, thực quản thấy vị trí tắc; sinh thiết tế bào để xác định bị viêm hoặc ung thư; xét nghiệm độ pH dịch acid từ dạ dày trào lên thực quản và acid lưu lại tại nơi tắc nghẽn.


Chữa trị thế nào


Việc điều trị phụ thuộc vào các nguyên nhân gây khó nuốt, gồm: tập cho cơ nuốt đối với bệnh nhân bị các bệnh về não, thần kinh, cơ. Dùng thuốc điều trị các trường hợp bị khó nuốt do chứng ợ nóng, viêm thực quản, ngăn chặn acid từ dạ dày trào ngược lên thực quản. Nếu bị nhiễm khuẩn ở thực quản, phải điều trị bằng thuốc kháng sinh. Đối với bệnh nhân bị chứng khó nuốt nghiêm trọng, có thể cần có một ống sông để bơm thức ăn, nước uống vào dạ dày. Thay đổi các loại thức ăn, dùng  thức ăn lỏng để nuốt dễ dàng hơn. Nong giãn thực quản. Nội soi để lấy các dị vật mắc kẹt trong thực quản. Phẫu thuật để cắt bỏ khối u, túi thừa, lấy dị vật…


ThS. Nguyễn Xuân Lãm


Lời khuyên của thầy thuốc


Chứng khó nuốt do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó nguyên nhân bẩm sinh và sự lão hóa là không thay đổi được, còn các nguyên nhân mắc phải có thể phòng tránh được như: đột quỵ, tổn thương não, tủy sống, co thắt thực quản, đa xơ hóa cơ, loạn dưỡng cơ, bệnh Parkinson, viêm đa cơ, xơ cứng bì, bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, viêm thực quản, ung thư, dị vật thực quản…


Ðể phòng tránh các bệnh mắc phải là nguyên nhân gây ra chứng khó nuốt, mọi người cần thực hiện các biện pháp sau đây: bỏ hút thuốc lá, thuốc lào. Tránh hoặc hạn chế ăn mặn, tránh ăn nhiều đường. Không hay hạn chế uống rượu bia; ăn uống lành mạnh và tập thể dục đều đặn; hạn chế uống cà phê, nước chè đặc. Tránh căng thẳng về thể chất và tinh thần. Ðiều trị tích cực các bệnh tăng huyết áp, xơ cứng động mạch, dị tật não. Tránh các nguy cơ gây dị vật đường tiêu hóa như: trông nom trẻ cẩn thận,  không cho trẻ ngậm, mút các đồ chơi. Người lớn có răng lung lay, răng giả phải thận trọng khi ăn uống để phòng ngừa răng rơi ra, lọt vào họng. Không ăn uống nhanh, nuốt vội… Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật cắt 2/3 dạ dày nối vị tràng, người có bệnh hẹp môn vị cần tránh thức ăn chua, cay dễ kích ứng gây trào ngược dạ dày thực quản. Khi bị  mắc dị vật, phải đến ngay các cơ sở y tế có trang bị máy nội soi để nhanh chóng chẩn đoán và lấy dị vật qua nội soi. Cha mẹ cần chuẩn bị kỹ thức ăn cho trẻ nhỏ như lấy hết xương cá, xương lợn ra khỏi món ăn; tập cho trẻ lớn thói quen ăn chậm, nhai kỹ.


Ngoài ra, chúng ta cần ăn uống lành mạnh phòng bệnh ung thư vì khối u chèn ép thực quản gây khó nuốt như: ăn nhiều chất xơ và đạm thực vật; tăng cường ăn rau củ quả vì trong đó có các chất chống ôxy hóa như beta caroten, lycopen, các vitamin C, E có tác dụng chống lại các gốc tự do tấn công và phá hủy màng tế bào gây bệnh ung thư. Ăn uống điều độ, tránh thừa cân béo phì.


  • Chứng khó nuốt ở người cao tuổi


Chứng khó nuốt ở người cao tuổi

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Những bài tập thể dục an toàn cho mẹ bầu

Trên thực tế, luyện tập thực sự được đánh giá cao vì nó giúp bạn có thể vượt cạn tự nhiên một cách dễ dàng.


Có thể bạn đã được nghe những lời khuyên rằng không nên luyện tập thể dục thể thao trong thời gian mang thai vì nó có thể làm động thai, ảnh hưởng không tốt tới thai nhi. Trái ngược hoàn toàn với những thông tin đó, có những bài tập rất an toàn, bạn có thể tập trong khi mang thai. Thực tế đã chứng minh, luyện tập thực sự được đánh giá cao vì nó có thể giúp bạn vượt cạn tự nhiên một cách dễ dàng.

Dưới đây là những bài tập an toàn bạn có thể áp dụng trong khi mang thai.


Phương pháp Kegel


Các bài thể dục Kegel được thiết kế cho phần cơ vùng xương chậu của bạn, đó là phần cơ xung quang niệu đạo, bang quang, trực tràng và tử cung. Khi thực hiện thường xuyên, nó có thể giúp tăng cường cơ bắp sàn khung chậu của bạn. Đồng thời nó giúp bạn kiểm soát các cơ bắp hiệu quả khi sinh. Đó là một bài tập dễ dàng để bạn thực hiện vì bạn có thể tập ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào.


 Những bài tập thể dục an toàn cho mẹ bầu1
Tập Kegel thường xuyên sẽ giúp cơ bắp sàn khung chậu của bạn. (Ảnh minh họa)


 


Để tập các động tác của Kegel, trước tiên bạn xác định cơ xương chậu của bạn bằng cách dừng giữa chừng khi đi tiểu – cơ bạn đang sử dụng trong khi làm điều này được gọi là cơ sàn chậu. Bây giờ khi đã xác định được cơ sàn chậu, bạn thóp bụng lại, đặc biệt là phần cơ sàn bụng từ 3 đến 10 giây, nín thở sau đó thở ra và thư giãn.

Bạn có thể thực hiện động tác này cả khi ngồi và đứng. Bạn nên tập 4 lần một ngày, bạn sẽ thấy được sự cải thiện cơ sàn bụng đáng kể nhiều hơn bạn nghĩ đấy.


Đứng lên ngồi xuống


Ngồi xổm là một cách tốt để tập cho đùi và cơ xương chậu hoạt động hiệu quả trong lúc sinh vì nó tăng cường cơ bắp đùi và kéo dài xương chậu của bạn.


Bạn có thể thực hiện điều này với sự trợ giúp của một chiếc ghế hay một chiếc bàn có chiều cao bằng với vòng eo của bạn. Bắt đầu bằng cách giữ bàn hoặc ghế trong tư thế đứng lên với lưng thẳng, hai chân rộng bằng vai, các ngón chân hướng ra ngoài. Sau đó bạn từ từ hạ thấp cơ thể xuống sàn nhà cho đến khi ở vị trí lưng chừng – đùi song song với mặt sàn.

Đảm bảo việc hạ thấp cơ thể của bạn trong khi lưng vẫn phải thẳng. Ở vị trí này trong khoảng 10 giây, sau đó lặp lại động tác nhưng để đứng dậy. Bạn tập động tác này vài lần mỗi ngày để đùi và cơ bắp vùng chậu được rèn luyện tăng khả năng chịu đựng trước khi sinh.


Đi bộ 


Đi bộ có thể giúp bạn sinh nở dễ dàng hơn. Các nghiên cứu cho thấy đi bộ giúp mang lại khoảng thời gian lâm bồn ít hơn vì nó thực sự có thể giúp tăng khả năng chịu đựng của bạn khi luyện tập một cách thường xuyên. (Bạn sẽ cần rất nhiều năng lượng trong quá trình vượt cạn).


 


Những bài tập thể dục an toàn cho mẹ bầu2
Đi bộ có thể giúp bạn sinh nở dễ dàng hơn.


Phụ nữ mang thai trong giai đoạn tam cá nguyệt thứ 3, nếu kết hợp việc đi bộ vào thói quen tập thể dục của họ sẽ rất có lợi cho sức khỏe, vì ở trong một tư thế thẳng đứng giúp tăng áp lực vùng chậu, do đó giúp cho thai nhi dễ di chuyển vào một vị trí tốt hơn để thuận lợi trong quá trình sinh nở.

Đi bộ là phương pháp đơn giản hóa thể thực hiện vào cả ngày bận rộn – chỉ cần đi dạo nhàn nhã trong công viên và như thế bài tập của bạn đã hoàn tất.


Điều chỉnh tư thế


Bạn có thể có được hông và xương chậu linh hoạt hơn bằng cách thường xuyên điều chỉnh tư thế đặt ra. Thói quen này cũng giúp cải thiện tư thế của bạn khi mang thai do vậy làm giảm căng thẳng trên lưng dưới của bạn. Nó là một bài tập đơn giản để thực hiện – tất cả bạn cần là chính mình và một bức tường.


Đầu tiền bạn ngồi trên sàn nhà với lưng thẳng áp sát vào tường. Sau đó bạn cần phải để hai lòng bàn chân chạm vào nhau. Lúc này hai chân của bạn sẽ bạnh ra. Bạn từ từ di chuyển kéo hai đầu gối lại gần nhau lúc này chân bạn sẽ vuông góc với sàng nhà. Giữ ở vị trí đó trong khoảng 20 – 20 giây và lặp lại một vài lần mỗi ngày.


Nghiêng xương chậu


 


Những bài tập thể dục an toàn cho mẹ bầu3
Làm xương chậu nghiêng thường xuyên trong một khoảng thời gian mang thai có thể giúp bạn ít đau lưng. 


Làm xương chậu nghiêng thường xuyên trong một khoảng thời gian mang thai có thể giúp bạn ít đau lưng đồng thời còn giúp dễ dàng sinh nở một cách tự nhiên. Bằng cách tập luyện nghiêng phần vùng chậu bạn cũng có thể tăng sức mạnh của cơ bụng và giảm bớt một số cơn đau mà bạn cảm thấy trong giai đoạn cuối thai kì. Bắt đầu bằng cách chống chân và tay xuống thảm mềm (tư thế đang bò) đầu hơi nghếch lên. Sau đó, bụng hóp lại, lưng võng xuống bạn hít vào. Giữ ở tư thế này trong vài giây sau đó thở ra và thư giãn. Cố gắng thực hành thói quen này một vài lần trong thời gian mang thai của bạn.


 


 


 



Những bài tập thể dục an toàn cho mẹ bầu

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Những lưu ý cho sản phụ sau khi sinh mổ

Mặc dù sinh thường có nhiều lợi hơn cho mẹ và thai nhi, nhưng ngày càng nhiều phụ nữ chọn phương pháp sinh mổ.


Ngoài những trường hợp bắt buộc do không thể sinh thường, thì cũng có một số trường hợp do sợ đau, sợ không nguyên vẹn làm ảnh hưởng hạnh phúc, hay muốn em bé chào đời đúng giờ để làm ăn phát đạt.


Những lưu ý cho sản phụ sau khi sinh mổ1


• Sinh mổ có ưu điểm nhanh, gọn, không phải theo dõi lâu, nhưng lại nhiều rủi ro: thai phụ mất nhiều máu, đau nhiều sau khi mổ, có thể gặp tai biến khi gây mê, gây tê, có nguy cơ cao nhiễm trùng tử cung, nhiễm trùng vết mổ, tụ máu dưới vết mổ, nguy cơ biến chứng tắc ruột, dính ruột sau này, lần mang thai sau có nguy cơ bánh nhau bám lên vết mổ gây nhau cài răng lược…


• Sinh mổ, người mẹ không thể cho em bé bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, do vậy không tận dụng được sữa non (có lượng kháng thể IgA chống nhiễm trùng tiêu hóa rất cao).


• Sinh thường sẽ khiến cửa âm đạo mở rộng, có lợi cho bài tiết sản dịch và cũng có lợi cho việc phục hồi tử cung sau khi sinh. Đây cũng là 1 trong những nguyên nhân cần phải có chế độ chăm sóc sau sinh đặc biệt dành cho các mẹ sinh mổ.


Kiêng cữ sau khi sinh mổ


Tuy sinh mổ không phải là ca phẫu thuật quá phức tạp, thông thường khoảng 7 ngày là có thể cắt chỉ, 9-10 ngày sau có thể xuất viện, nhưng sản phụ sinh mổ vẫn cần chú ý những điều sau:


• Nên nằm nghiêng, có gối kê sau lưng (tốt hơn nữa khi kết hợp túi muối nóng) vì khi nằm ngửa sẽ cảm thấy rất đau ở vết mổ.


• Không nằm yên tĩnh, cố định: Sau khi phẫu thuật thì nghỉ ngơi ở giường, nhưng ngủ lâu không tốt, nước ối sẽ bị tích tụ ở tử cung. Sau 24h thì trở thân mình, ngồi dậy nhẹ nhàng, tăng cường sự hoạt động của ruột, dạ dày, điều tiết khí sớm, như thế còn có thể dự phòng bị dính ruột cùng các tĩnh huyết mạch bị tắc.


• Không nên ăn no: Sau khi sinh mổ, sự hoạt động của ruột giảm, dạ dày bị ức chế, do đó, sau khi phẫu thuật mà ăn nhiều sẽ tiêu hóa khó khăn, tích tụ lâu dễ dẫn tới táo bón và tăng thêm khí trong ruột khiến bụng bị đầy hơi, không có lợi cho việc hồi phục sức khỏe. Cho nên sau phẫu thuật trong 6 giờ thì không được ăn gì, khi ruột đã dần dần khôi phục chức năng mới nên ăn uống.


• Chú ý nước bẩn bài tiết ra: Nếu tử cung co rút không tốt, khôi phục kém thì nước ối vỡ sẽ tích chứa trong tử cung, bài tiết mà dẫn tới bị viêm nhiễm. Nên mỗi ngày cần kiểm tra độ nóng trong cơ thể, nếu vượt qua 38 độ C thì có thể bị viêm nhiễm, nên lập tức gặp bác sĩ để kháng chế trị liệu.


• Chú ý có hay không viêm nhiễm vết mổ: nếu khi không hoạt động, vết mổ ở bụng bị trướng lên hay đau đớn, đây có thể là do bị viêm nhiễm vết mổ. Chú ý vết mổ có biểu hiện màu hồng, sưng trương, nếu đụng vào vết mổ thì đau, xung quanh bị tấy cứng, nên đến bệnh viện điều trị.


• Đại tiểu tiện kịp thời: Sau khi phẫu thuật, nếu không thể bài tiết đại, tiểu tiện kịp thời thì dễ tạo thành nước tiểu bị lưu lại, và đại tiện bị vón, táo bón.


• Không nên làm việc gia đình sớm: Nên tránh các hoạt động nặng, người mẹ sau sinh mổ cần hết sức giữ gìn để khôi phục sức khỏe để vết thương chóng khỏi, không nên làm các việc lặt vặt trong gia đình sớm.


• Không nên ăn cá: theo nghiên cứu thì trong cá chứa hàm lượng vị chua rất lớn, nó ức chế sự ngưng tụ của máu, không có lợi cho việc đông máu sau khi mổ phẫu thuật và khiến vết thương lâu không lành.


• Phòng trị cảm mạo: Sản phụ sau khi mổ cần hết sức giữ gìn tránh bị cảm mạo, bởi như thế sẽ làm giảm sức đề kháng của thân thể xuống rất thấp, vết thương dễ bị viêm nhiễm.


• Chú ý giữ vệ sinh sạch sẽ: Đặc biệt là khu vực bụng, nơi có vết thương chưa làmh cùng với âm đạo cần  được thường xuyên giữ vệ sinh, không được bôi thuốc gì lạ lên vết thương mà không có sự đồng ý của bác sĩ. Không được cởi bỏ hết băng bó ở vết mổ cũng như không được băng quá chặt vết mổ


 



Những lưu ý cho sản phụ sau khi sinh mổ

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Những thực phẩm gây sảy thai bà bầu cần tránh

Phụ nữ cần tránh một số loại thực phẩm có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của thai nhi.


Trong suốt thời kỳ mang thai, người mẹ cần bổ sung rất nhiều chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, ngoài việc ăn uống lành mạnh, phụ nữ cần tránh một số loại thực phẩm nhất định làm ảnh hưởng sức khỏe thai nhi, thậm chí có thể dẫn đến sẩy thai.


Thực phẩm ăn sống


Kiêng đồ sống trong thời kỳ mang thai là điều vô cùng quan trọng. Những thực phẩm này chứa nhiều vi khuẩn và virus, có thể đe dọa sự an toàn cho thai nhi và mẹ. Chuyên gia khuyên các bà bầu nên ăn thực phẩm nấu chín và đã được chọn lọc kỹ lưỡng, tránh đồ ăn chứa nhiều vi khuẩn hay có khả năng nhiễm virus


 Đồ biển


Tuy đồ biển chứa nhiều a-xít béo omega-3 có lợi cho sự phát triển của trẻ nhưng bạn cần tránh các loại thực phẩm chứa nhiều thủy ngân. Những đồ biển thường chứa thủy ngân như cá hồi, cua hoặc thịt cá mập… có thể gây hại cho não trẻ.


 Những thực phẩm gây sảy thai bà bầu cần tránh1


Trong cua chứa nhiều thủy ngân có thể gây hại cho não của trẻ


Đồ uống không tiệt trùng


Các bà bầu nên tránh dùng các sản phẩm sữa, phô mai, sữa chua không nhãn mác, không nguồn gốc, chưa qua quá trình tiệt trùng. Thai phụ có thể ăn pho mát hoặc uống các loại sữa không béo nhưng nên tránh các loại phô mai không tiệt trùng như feta hoặc brie.


Trái cây, rau quả chưa rửa sạch


Nấu chín thức ăn là việc làm vô cùng quan trọng đối với các bà bầu. Ngoài việc không nên ăn thịt, cá sống, chưa chín tới, các bà mẹ tương lai đừng quên rửa trái cây, rau quả và các thực phẩm khác thật sạch trước khi ăn.


Cà phê, trà, rượu


Tránh sử dụng cà phê, trà và rượu trong suốt thai kỳ giúp phụ nữ ngăn ngừa các biến chứng trong thời gian sinh nở và tránh dị tật ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, bà bầu uống quá nhiều 3 chất kích thích trên sẽ làm tăng nguy cơ sẩy thai.


Những thực phẩm gây sảy thai bà bầu cần tránh2


Bà bầu nếu uống quá nhiều cà phê sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai



Những thực phẩm gây sảy thai bà bầu cần tránh

Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai giảm nguy cơ ung thư buồng trứng


Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai ít có khả năng phát triển ung thư buồng trứng, nghiên cứu này mới công bố ở Mỹ.


 su-dung-thuoc-tranh-thai

Các nhà khoa học tiến hành phân tích dữ liệu từ 24 nghiên cứu về phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, kết quả cho thấy trong thuốc tránh thai có chứa các hormon estrogen và progestin có tác dụng giảm nguy cơ ung thư buồng trứng ở nữ giới về lâu dài. TS. Laura Havrilesky, trưởng nhóm nghiên cứu tại Đại học Y Dược, Durham, Nam Carolina cho biết: những người sử dụng thuốc viên tránh thai tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng giảm 27% so với những người không dùng. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc tránh thai giảm nguy cơ ung thư buồng trứng chỉ có tác dụng với những người chưa mắc căn bệnh này và thời hạn để thuốc tránh thai có tác dụng là 5 năm trở lên.


 Huệ Minh (Theo Reuters, 6/2013)


  • Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai giảm nguy cơ ung thư buồng trứng



Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai giảm nguy cơ ung thư buồng trứng